Rút ngắn khoảng cách công nghiệp hỗ trợ Việt Nam với thế giới
Ông Đoàn Quốc Tuấn, Giám đốc công ty Cơ Khí Dược Tuấn Thắng - ảnh: Mai Thanh

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế Việt Nam ở góc độ vốn đầu tư, tăng trưởng GDP và kim ngạch xuất nhập khẩu… thì cũng tạo ra một khoảng cách rất lớn với khu vực doanh nghiệp (DN) trong nước, khi ngành công nghiệp hỗ trợ gần như giẫm chân tại chỗ. Một chuyên gia nhiều năm làm trong lĩnh vực công nghiệp điện tử chia sẻ Việt Nam đã từng có cơ hội thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ khi ban hành chủ trương liên doanh giữa DN FDI với DN trong nước. Chẳng hạn, giai đoạn 1993-1995, hàng loạt thương hiệu lớn của Nhật như Sony, Panasonic, JVC, Toshiba lần lượt lập liên doanh với DN nội địa như Viettronics Tân Bình, Viettronics Thủ Đức...

Chính sách của Việt Nam lúc đó là thu hút nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải thành lập liên doanh, dùng hàng rào thuế quan hạn chế nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu. Khi đó, DN ngoại muốn thâm nhập thị trường Việt Nam phải xây nhà máy sản xuất vì nếu chỉ hoạt động thương mại thì hàng rào thuế quan sẽ rất cao. Các DN trong nước có cơ hội học hỏi về vốn, công nghệ, quản trị từ FDI rồi dần dần có thể tách ra lập thương hiệu riêng, trở thành DN nội địa làm "xương sống" cho nền kinh tế.

Trong phần lớn những giấy phép đầu tư thời kỳ đó cấp cho nhà đầu tư nước ngoài đều có câu là "Ràng buộc tỉ lệ nội địa hóa". "Nhưng mục tiêu này đã thất bại do thời kỳ đó cơ quan quản lý thiếu cơ chế giám sát, rất nhiều công ty nội địa liên doanh xong có khoản lãi đã không tái đầu tư vào ngành sản xuất chính mà đầu tư đa ngành, mua bất động sản… Hậu quả, sau khi liên doanh không còn, Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA), ngành công nghiệp hỗ trợ của chúng ta vẫn không phát triển như kỳ vọng. Đáng tiếc nhất là chúng ta đã bỏ qua cơ hội xây dựng hạ tầng cho ngành công nghiệp cơ bản, nên bây giờ mới có khoảng trống quá lớn giữa DN trong nước với FDI" - chuyên gia này phân tích.

Năm 1996, Hiệp định về chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO) được Việt Nam và một số nước trong khu vực ASEAN ký kết với cam kết giảm thuế suất xuất khẩu đối với sản phẩm của tập đoàn đa quốc gia hoạt động tại các nước trong khu vực. Mục tiêu của hiệp định này nhằm khuyến khích các tập đoàn nước ngoài gia tăng tỉ lệ nội địa hóa, hỗ trợ ngành công nghiệp phụ trợ bản địa phát triển. Một chuyên gia của Tập đoàn Samsung tại Việt Nam cho biết đây là chính sách tốt góp phần thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam và khoảng năm 1998-2000, ông đã qua Malaysia tìm hiểu, nghiên cứu xem Samsung Việt Nam nên sản xuất mặt hàng gì để được hưởng thuế giữa 2 nước nhưng sau đó DN Việt không tận dụng được cơ hội này cho ngành công nghiệp phụ trợ…

Rất nhiều chuyên gia đã cảnh báo về khoảng trống lớn giữa khu vực FDI với khu vực trong nước khi ngành công nghiệp hỗ trợ kém phát triển và quá ít DN nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng. Về nguyên tắc, công ty đa quốc gia nào cũng muốn nguồn cung ứng nguyên phụ liệu của mình được cung cấp tại chỗ để không tốn ngoại tệ, tiết kiệm thời gian và lên kế hoạch sản xuất sát thực tế nhưng với điều kiện chất lượng tốt, giá thành hợp lý. Không phải DN Việt không làm được ốc vít nhưng làm sao sản xuất được cả triệu con ốc vít với chất lượng như nhau, giá thành thấp và bán cho ai mới là quan trọng. Công nghiệp phụ trợ là sản xuất với số lượng rất lớn, thời gian thu hồi vốn chậm nên phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ của nhà nước để tạo lập thị trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam tham gia nhiều FTA với các cam kết như hiện nay, việc có chính sách hỗ trợ trực tiếp là rất khó.

Ông Lê Hoài Quốc, Trưởng Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP HCM (SHTP), cho biết đầu tư đến ngưỡng để bảo đảm chất lượng, thời gian giao hàng và giá thành ổn định là thách thức rất lớn đối với DN trong nước. Dù vậy, gần đây đã có tín hiệu khả quan khi lượng DN cung ứng cho các dự án FDI ngày càng nhiều. Như tại SHTP, hiện chỉ tính riêng tổ hợp sản xuất trị giá 2 tỉ USD của Samsung đã có 13 DN trong nước cung ứng nguyên phụ liệu đầu vào và có 4 DN khác đang được kết nối để có thể trở thành nhà cung ứng cho tập đoàn này.

Đơn cử, Công ty Minh Nguyên có vốn đầu tư 1.600 tỉ đồng tại SHTP đang là nhà cung ứng trực tiếp cho Samsung với 28 linh, phụ kiện, không chỉ là vỏ nhựa, bao bì mà bắt đầu được đặt hàng cung cấp bo mạch, một số chi tiết kim loại có độ chính xác cao… Hay như Công ty GES, năm ngoái lượng đặt hàng từ Samsung là 25 triệu USD và dự kiến năm nay sẽ tiếp tục tăng lên. "Mục tiêu đến năm 2020, họ cam kết giá trị sản phẩm nội địa cung ứng tối thiểu đạt 35%, chẳng hạn nếu Samsung xuất khẩu 10 tỉ USD thì các DN trong nước cung ứng sẽ được 3,5 tỉ USD. Có điều trong số 3,5 tỉ USD này, có cả DN nội địa và DN FDI đến từ các nước nên câu chuyện là DN Việt nếu giỏi thì "miếng bánh" này sẽ nhiều hơn" - ông Quốc nói.

Đến 2020, sản lượng xuất khẩu ngành cơ khí đạt 35% tổng sản lượng

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Mục tiêu tổng quát, đến năm 2035, ngành cơ khí Việt Nam được phát triển với đa số các chuyên ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi giá trị toàn cầu, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, cạnh tranh bình đẳng trong hội nhập quốc tế; đội ngũ lao động chuyên nghiệp, có kỷ luật và có năng suất cao, chủ động trong các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản phẩm cơ khí, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản phẩm cơ khí của thị trường trong nước.

Về xuất khẩu, giai đoạn đến năm 2020 sản lượng xuất khẩu đạt 35% tổng sản lượng ngành cơ khí, giai đoạn đến năm 2030 đạt 40%. Đến năm 2035 đạt 45% tổng sản lượng ngành cơ khí. Cụ thể, đến năm 2025, tập trung phát triển một số phân ngành cơ khí ô tô, máy kéo, máy nông nghiệp, thiết bị công trình, thiết bị công nghiệp và thiết bị điện, có khả năng đáp ứng cơ bản các yêu cầu của nền kinh tế và một phần xuất khẩu; đội ngũ lao động ngành cơ khí cơ bản có đủ trình độ đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất hiện đại.

Sau năm 2025, hình thành một số tổ hợp nhà thầu tư vấn và chế tạo có khả năng làm chủ công tác thiết kế, chế tạo nhóm thiết bị phụ, gói thầu EPC của các công trình công nghiệp; tập trung hỗ trợ một số DN trong nước có tiềm năng trở thành các tập đoàn mạnh trong khu vực trong lĩnh vực chế tạo như ô tô, máy nông nghiệp và thiết bị điện; hình thành hệ thống DN công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí đạt tiêu chuẩn nhà cung cấp trực tiếp cho các DN sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, với đối tượng DN vừa và nhỏ chiếm vai trò chủ đạo.

Chiến lược đề ra các chính sách thực hiện, tiếp tục rà soát sửa đổi, bổ sung các chính sách thúc đẩy ngành cơ khí bao gồm các ưu đãi về thuế (Thuế thu nhập DN, Thuế nhập khẩu), các biện pháp hỗ trợ đầu tư và kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính; tiếp tục rà soát sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách hỗ trợ ngành cơ khí phù hợp với pháp luật về đầu tư và cam kết hội nhập kinh tế quốc tế và định hướng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa nhằm tạo động lực cho phát triển ngành cơ khí Việt Nam, kết hợp chặt chẽ với phát triển công nghiệp lưỡng dụng; đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng tỷ lệ giá trị sản xuất trong nước, xây dựng chuỗi sản xuất, lắp ráp sản phẩm cơ khí trong nước và chủ động tham gia vào chuỗi sản xuất ngành cơ khí thế giới.

Tập trung sản xuất sản phẩm cơ khí quan trọng

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tập trung phát triển một số loại vật liệu cơ bản phục vụ ngành cơ khí, nhằm tận dụng lợi thế so sánh về nguồn khoáng sản trong nước với trình độ công nghệ tiên tiến, có tính cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường; tạo lập thị trường ở các phân ngành đã chọn, tạo tiền đề cho ngành cơ khí làm chủ công nghệ và nâng cao khả năng chế tạo. Ban hành các chế tài để bảo hộ hàng trong nước đã sản xuất được, phù hợp cam kết quốc tế.

Thu hút các tập đoàn chế tạo đa quốc gia có tiềm lực và thương hiệu với các ưu đãi có sức hấp dẫn nhằm thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư có trọng tâm, trọng điểm trong đó đặc biệt tập trung vào các dự án sản xuất sản phẩm cơ khí quan trọng, có khả năng cạnh tranh, có dung lượng thị trường đủ lớn; đồng thời, chú trọng xúc tiến đầu tư đối với DN nhỏ và vừa, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, theo hướng chọn lọc các dự án có chất lượng, có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường.

Nhà nước có chính sách hỗ trợ DN mua thiết kế, công nghệ, đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất, áp dụng công nghệ và mô hình quản lý sản xuất tiên tiến để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tài nguyên đầu vào, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm cơ khí; đa dạng hóa và khác biệt hóa sản phẩm. Hỗ trợ xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm hoặc hỗ trợ mua sát nhập các DN toàn cầu có thương hiệu, bao gồm cả phần R&D để rút ngắn quá trình phát triển.

Nhà nước ưu tiên đầu tư nâng cấp các cơ sở đào tạo ngành cơ khí, gắn đào tạo với thực hành; hỗ trợ kinh phí cử cán bộ, công nhân giỏi đi đào tạo và thực tập tại nước ngoài theo các chương trình, dự án được phê duyệt, từng bước xây dựng lực lượng tổng công trình sư và kỹ sư trưởng. Nhà nước có cơ chế về lãi suất tín dụng để đầu tư và thời hạn vay vốn lưu động cho các nhà sản xuất thiết bị cơ khí có dung lượng thị trường đủ lớn; xây dựng hệ thống thông tin ngành cơ khí để làm cơ sở dữ liệu cho cơ quan quản lý nhà nước và DN dùng chung; thúc đẩy và phát huy vai trò các hiệp hội ngành nghề trong việc liên kết các DN trong ngành cơ khí, khắc phục tình trạng chia cắt và phân tán trong ngành cơ khí.

Mai Thanh


Tin mới
Sản phẩm & dịch vụ
Sự kiện
Hoạt động
Copyright by Industrial Automation Magazine Vietnam
Sponsor by: Ministry Of Industry and Trade (MOIT)
All rights reserved of IAVIETNAM.net
Add: 79 Truongdinh St, Dist 1, HCMC
Tel: +84- 6290 6349
Email: info@iavietnam.net